Chuyển đến nội dung chính

GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA (PHẦN 2)

GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA
(PHẦN 2)

CÓ DẤU HIỆU CỦA TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 
(ĐIỀU 140 BỘ LUẬT HÌNH SỰ)

           Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của người kháchoặcnhận được tài sản của người khácbằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Luật sư Phạm Quang Biên
tham gia bào chữa trong vụ án Châu Thị Thu Nga

            Sự khác nhau của 2 tội này đó là: Trong tội lừa đảo, người phạm tội phải có hành vi gian dối để nhận được tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, tức là phải chủ động thực hiện các thủ đoạn để chiếm hữu tài sản và cuối cùng là chiếm đoạt tài sản đó. Còn đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì việc giao nhận tài sản là hoàn toàn hợp pháp, ngay thẳng, người phạm tội chưa có hành vi gian dối vào thời điểm này và hoàn toàn có đủ điều kiện để thực hiện các cam kết theo thoả thuận giữa 2 bên. Ý định chiếm đoạt tài sản chỉ hình thành sau khi người phạm tội đã được giao tài sản. Điều đó có nghĩa là người phạm tội đã vi phạm những cam kết, những nghĩa vụ theo sự thoả thuận trước đây, đã bội tín nhằm mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản được giao.
            Xem xét hồ sơ vụ án cũng như theo dõi tiến trình xét xử tại phiên tòa, chúng tôi nhận thấy hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài, cụ thể:
 
             1. Khách thể:
             Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.
             Các tình tiết trong vụ án thỏa mãn dấu hiệu khách thể của tội phạm, cụ thể khách thể ở đây là quan hệ sở hữu tài sản đã bị xâm phạm. Tài sản ở đây là số tiền mà các khách hàng đã nộp cho Housing Group để có quyền mua căn hộ khi đủ điều kiện. Việc Housing Group không có khả năng trả lại số tiền cho khách hàng theo đúng hợp đồng đã tác động đến quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ.
 
              2. Chủ thể:
             Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng giống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài những điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự, tội này đòi hỏi chủ thể phải là người được chủ tài sản tín nhiệm giao cho một tài sản nhất định. Việc giao và nhận tài sản là hoàn toàn ngay thẳng. Chủ tài sản do tín nhiệm đã giao tài sản cho người được giao sử dụng (hợp đồng vay, mượn, cho thuê...), bảo quản (hợp đồng bảo quản), vận chuyển (hợp đồng vận chuyển), sửa chữa (hợp đồng sửa chữa), gia công (hợp đồng gia công, chế biến).

              Các khách hàng của dự án B5 Cầu Diễn đều ghi nhận rằng do tin tưởng Housing Group có Tổng giám đốc Châu Thị Thu Nga - Cựu đại biểu Quốc hội là người có nhiều kinh nghiệm hiểu biết trong các dự án bất động sản, thâm niên làm việc lâu năm tại các Cơ quan cấp cao của Nhà nước, cũng như là người am hiểu Hiến pháp, pháp luật, các chính sách, chủ trương của Đảng (BL 87) nên đã ký các thỏa thuận vay vốn, góp vốn, nộp tiền cho Housing Group và nếu đủ điều kiện sẽ được mua nhà hình thành trong tương lai.

              3. Mặt khách quan (bao gồm hành vi khách quan và hậu quả phạm tội):

             Cơ sở đầu tiên để xác định hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm tài sản đó là việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội phải xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.Tiếp sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản sẽ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
              Sau khi nhận được tài sản, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
            Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản).
             Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó (tài sản nhận từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp) vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
             + Về hành vi khách quan:
           Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội là trên cơ sở hợp đồng hợp pháp:Để chuyển giao tài sản, các khách hàng đã ký hợp đồng, nộp tiền choHousing Group (Châu Thị Thu Nga và các bị cáo làm đại diện) vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Đây là hợp đồngdân sự có thỏa thuận trả lãi, khách hàng sẽ được lấy căn hộ khi đủ điều kiện, nếu khách có yêu cầu rút vốn sẽ được trả cả gốc lẫn lãi. Hợp đồng được ký trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, ngay thẳng, có mục đích rõ ràng, tiếp nhận mục đích của nhau và không có sự che giấu mục đích chiếm đoạt tài sản.
            Có dấu hiệu Châu Thị Thu Nga đã sử dụng số tiền đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản:
            Housing Group ký hợp đồng với khách hàng và có ghi rõ trong hợp đồng với mục đích là phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Như vậy, những khoản chi không phục vụ việc sản xuất kinh doanh, hay chi tiêu vào việc pháp luật cấm của Housing Group (Châu Thị Thu Nga) sẽ bị coi là bất hợp pháp như: 
  • Số tiền 157.161.545 đồng là tiền hoa hồng môi giới cho các cá nhân giới thiệu khách hàng nộp tiền góp vốn vào Dự án B5 Cầu Diễn (BL 30855, 30857; 30859; 30861; 30864, 30865, 30866; 30869, 30870; 30874, 30876; 30879, 30881).
  • Tiền Châu Thị Thu Nga chi cho các mục đích cá nhân: 3.454.865.095 đồng mua căn hộ 1703 (BL 247, 275), chi 3.680.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Ngọc vay (BL 247),..
  • Các khoản chi không có chứng từ: chi 54 tỷ và 12 tỷ (BL 248) để thủ tục đầu tư dự án được thuận lợi, chi 47,5 tỷ chạy dự án và để được ứng cử ĐBQH (LK Châu Thị Thu Nga: BL 197, 198, BL 199 đến 204, 210, 211, 212, 216, 217, 218, 236, 248).
              + Về hậu quả của tội phạm: theo quy định của pháp luật cần thỏa mãnsố tiền chiếm đoạt từ 4 triệu đồng trở lên. Theo đó cần xem xét lại số tiền thực chất Châu Thị Thu Nga và các bị cáo đã sử dụng không đúng mục đích để rồi từ đó xem xét trách nhiệm của các bị cáo.

               4. Mặt chủ quan:

             + Lỗi: Châu Thị Thu Nga nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Tuy biếtrằng dự án chưa được phê duyệt (BL 170, 179, 195, 229, 234) nhưng Nga mong muốn thực hiện các hợp đồng đã ký với khách hàng theo đúng thỏa thuận(Lời khai tại phiên tòa).Chỉ là sau khi có được số tiền của khách hàng, Châu Thị Thu Nga đã nhân danh Housing Group chi tiêu vào nhiều các mục đích khách nhau dẫn đến khả năng không thể trả lại số tiền, cũng như không có căn hộ nào để trả cho khách.
              + Mục đích chiếm đoạt tài sản: Mục đích chiếm đoạt gắn liền hành vi của Châu Thị Thu Nga.Như đã phân tích trên Châu Thị Thu Nga sau khi nhận đượcsố tiền của khách hàng có dấu hiệu của việc bà đã sử dụng số tiền đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
                Xét thấy, Châu Thị Thu Nga các bị báo đã lợi dụng sự tín nhiệm của Housing Group lấy số tiền thu được từ khách hàng phục vụ cho xác hoạt động nêu trêu dẫn đến việc không thể trả lại tiền cho khách.Các điều kiện về khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan đều thỏa mãn cấu thành tội phạm.Do đó, hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo Điều 140 BLHS 1999 (nay là Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên cần xem xét kỹ hơn về các số tiền Châu Thị Thu Nga đã chi bất hợp pháp cho nhiều các mục đích khác nhau để từ đó có thể xác định trách nhiệm của Châu Thị Thu Nga hay Housing Group phải chịu.
 
             5. Ảnh hưởng đối với các bị cáo trong vai trò đồng phạm và quyền lợi của các khách hàng.
               Như đã phân tích trên, Châu Thị Thu Ngacó dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vì vậy việc xác định lại tội danh và xem xét kỹ số tiền thực chất Châu Thị Thu Nga đã chiếm đoạt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí, vai trò của các bị cáo khác trong vụ án đồng phạm cũng như quyền lợi của các khách hàng, cụ thể:
             + Đối với các bị cáo khác (đặc biệt là ông Nguyễn Vũ Hùng): Theo chỉ đạo và phân công công việc của Housing Group thì: bị cáo Nguyễn Trường Sơn, Lê Hồng Cương, Nguyễn Vũ Hùng, Phan Thanh Tuyên là người đại điện cho Housing Group ký vào hợp đồng; bị cáo Nguyễn Thị Tình, Lưu Thị Thúy là người giao dịch với khách hàng, hoàn thiện hợp đồng; bị cáo Phạm Thị Thu Hạnh, Đinh Phúc Tiếu, Đoàn Thanh Thủy ký các phiếu thu tiền của khách hàng. Xét thấy vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án đồng phạm là không đáng kể, các bị cáo thực hiện hành vi theo đúng sự phân công chỉ đạo của công ty, theo đúng bản chất mối quan hệ lao động. Vì vậy, việc xác định rõ số tiền thực chất Châu Thị Thu Nga đã chiếm đoạt là rất cần thiết, để từ đó xác định rõ hơn vai trò của từng bị cáo trong việc giúp Châu Thị Thu Nga trong việc chiếm đoạt số tiền từ các khách hàng và sử dụng số tiền đó vào các mục đích cá nhân, mục đích không đúng như đã thỏa thuận.
              + Đối với các khách hàng đã nộp tiền vào dự án B5: Ngoài các khách hàng mong muốn nhận lại số tiền, còn rất nhiều khách hàng vẫn mong dự án vẫn tiếp tục được thực hiện. Vì vậy, về phía tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì đã xác định được các hợp đồng công ty ký với khách hàng vẫn là các hợp đồng dân sự hợp pháp, không phải là các hợp đồng trái pháp luật,từ đó quyền lợi của các khách hàng sẽ được đảm bảo và không bị ảnh hưởng.

(Còn tiếp) - HT

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA (PHẦN 3)

GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA (PHẦN 3) QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ CÓ SỰ VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG THỦ TỤC TỐ TỤNG Theo Khoản 1, Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC quy định:“1. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” quy định tại khoản 3 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 179 của BLTTHS là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.”             1. Xử lý hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội gây ra không đúng:             Trong hồ sơ vụ án thể hiện rõ: Khi là người đại diện hợp pháp của công ty, Châu Thị Thu Nga được giao thực hiện các...

GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA (PHẦN I)

GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA (PHẦN I)          I. HÀNH VI CỦA CÁC BỊ CÁO CHƯA ĐỦ YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (ĐIỀU 139 BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ)            Để xem xét các bị cáo có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? thì cần phải làm rõ là hành vi của người phạm tội có thực chất là đang dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản (tức người bị hại) tin vào thủ đoạn gian dối đó, nghĩ rằng thủ đoạn gian dối đó là sự thật. Và vì tin, nghĩ vào thủ đoạn gian dối đó nên người bị hại đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Tội này buộc phải là các hành vi được thực hiện bằng phương thức bí mật chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Luật sư Phạm Quang Biên tại phiên xét xử sơ thẩm vụ án Châu Thị Thu Nga ...