GÓC NHÌN KHÁC VỀ VỤ ÁN CHÂU THỊ THU NGA (PHẦN I)
I. HÀNH VI CỦA CÁC BỊ CÁO CHƯA ĐỦ YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (ĐIỀU 139 BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ)
Để xem xét các bị cáo có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? thì cần phải làm rõ là hành vi của người phạm tội có thực chất là đang dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản (tức người bị hại) tin vào thủ đoạn gian dối đó, nghĩ rằng thủ đoạn gian dối đó là sự thật. Và vì tin, nghĩ vào thủ đoạn gian dối đó nên người bị hại đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Tội này buộc phải là các hành vi được thực hiện bằng phương thức bí mật chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Theo Cáo trạng số 39/CTr-VKSTC-V3 ngày 16/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bản án số 338/2017/HSST ngày 16/10/2017 của Tòa án nhân thành phố Hà Nội quy kếtChâu Thị Thu Nga chỉ đạo cấp dưới tiến hành các bước triển khai dự án để khiến 726 khách hàng góp vốn mua căn hộ tại dự án B5 Cầu Diễn, qua đó lừa đảo chiếm đoạt số tiền 377.287.934.482 tỉ đồng:
Để xem xét các bị cáo có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? thì cần phải làm rõ là hành vi của người phạm tội có thực chất là đang dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản (tức người bị hại) tin vào thủ đoạn gian dối đó, nghĩ rằng thủ đoạn gian dối đó là sự thật. Và vì tin, nghĩ vào thủ đoạn gian dối đó nên người bị hại đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Tội này buộc phải là các hành vi được thực hiện bằng phương thức bí mật chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
![]() |
| Luật sư Phạm Quang Biên tại phiên xét xử sơ thẩm vụ án Châu Thị Thu Nga |
- Đăng nội dung thông tin lên web, lập mô hình, thi công cọc khoan nhồi, ủy quyền cho các Phó tổng giám đốc ký hợp đồng với khách hàng và các văn bản liên quan đến việc thực hiện dự án.
- Triển khai huy động vốn khách hàng và đối tác thực hiện dự án B5 Cầu Diễn với hình thức khách hàng ký kết hợp đồng vay vốn (thỏa thuận vay vốn) phục vụ sản xuất kinh doanh và kèm theo quyền lợi được mua căn hộ chung cư Dự án B5 Cầu Diễn khi dự án đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Số tiền thu được từ khách hàng đã chi trả cho 43 khách hàng góp vốn, số còn lại được sử dụng vào mục đích khác nhau.
Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đều thể hiện rõ việc Cơ quan tố tụng quy kếtChâu Thị Thu Nga các bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối là chưa thuyết phục, cụ thể:
1. Các bị cáo không sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản bằng hành vi gian dối khiến cho người bị hại tin tưởng những gian dối đó:
1. Các bị cáo không sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản bằng hành vi gian dối khiến cho người bị hại tin tưởng những gian dối đó:
+ Về việc lập mô hình dự án, mô hình được Housing Group lập là để triển lãm, việc lắp ráp các mô hình cũng tại ngay buổi triển lãm tháng 11/2010, sau đó để ở trụ sở công ty, chứ không phải lập ra với mục đích quảng bá hay lừa dối khách hàng.(BL29590, 29592, 29599 – Lời khai ông Lê Hồng Cương)
+ Về việc đăng thông tin về dự án B5 lên website công ty, Housing Group chỉ đăng thông tin giới thiệu chung về dự án, cũng như rất nhiều các thông tin dự án khác, chứ không quảng cáo riêng về dự án B5 Cầu Diễn. (BL 28897)
+ Về việc khoan nhồi 59 cọc bê tông tại dự án, trong số này 3 cọc khoan thí nghiệm được phép thực hiện. Còn 56 cọc còn lại âm dưới mặt đất 2m công trường rào khóa cẩn thận nên khách hàng không thể nhìn thấy được. Nhiều khách hàng khi được lấy lời khai tại cơ quan điều tra đều nói họ nộp tiền ký hợp đồng với Housing Group là vì tin tưởng công ty, tin tưởngChâu Thị Thu Nga là đại biểu Quốc hội và uy tín của Housing Group chứ không phải vì việc thi công cọc khoan tạo sự tin tưởng.(BL 22273, BL 22235, 22310, BL 26405, BL 26356, 22351, BL 30467).
Như vậy, việc lập các mô hình dự án, đăng thông tin dự án lên website công ty, thực hiện việc khoan nhồi cọc bê tông không phải là hành vi gian dối khiến khách hàng tin tưởng, ký kết hợp đồng, nộp tiền cho công ty. Đây chỉ đơn giản là các công việc liên quan đến dự án B5 Cầu Diễn khi công ty triển khai dự án, nên không thể khẳng định các bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối.
2. Các bị cáo không có mục đích chiếm đoạt tài sản trước khi nhận được tài sản:
+ Từ ngày 01/8/2008, Housing Group đã liên doanh ký hợp đồng hợp tác đầu tư số 309/CT-2008 với Công ty HAIC về việc thực hiện dự án B5 Cầu Diễn (BL 1350, 1351, 1352, 1353).
+ Housing Group đã triển khai kế hoạch vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, hình thức vay vốn là sử dụng 02 (hai) hình thức là: ký Hợp đồng vay vốn thực hiện đầu tư và phát hành trái phiếu theo Công văn số 649/CV-CT ngày 20/4/2009 do Châu Thị Thu Nga ký (BL 1234, 1235).
+ Đến ngày 29/6/2010, Housing Group đã có công văn số 748/CV-CT thông báo về tình hình thực hiện vốn góp xây dựng dự án gửi Sở xây dựng Hà Nội. Tại thông báo này đã có danh sách của các cá nhân tham gia góp vốn đợt 1 của dự án B5 Cầu Diễn (BL 1237 đến 1245).
+ Về các vấn đề liên quan đến 3 loại hợp đồng đã ký: qua hồ sơ vụ án có thể thấy đây là hợp đồng dân sự vay vốn có thỏa thuận trả lãi,công ty thì có nhu cầu vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, khách hàng tự nguyện nộp tiền cho công ty. Sau đó, khách hàng sẽ được lấy căn hộ khi đủ điều kiện, nếu khách hàng không còn nhu cầu sẽ được trả cả gốc lẫn lãi.
+ Trong các hợp đồng Housing Group đã ký có 43 khách hàng yêu cầu rút vốn, các bị cáo đã đại diện công ty chi trả lại hơn 28 tỉ đồng cho 43 khách hàng có nhu cầu. Như vậy các bị cáo ý thức trong việc thực hiện theo đúng các cam kết với khách hàng.
Xét thấy, việc triển khai các kế hoạch liên quan đến dự án B5 Cầu Diễn đã được triển khai rất sớm từ năm 2008, việc vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh cũng đã có những bước đầu trong thời gian 2009 – 2010. Housing Group đã công khai việc triển khai dự án B5 Cầu Diễn cũng như huy động vốn từ khách hàng, có gửi công văn thông báo tình hình lên Sở xây dựng Hà Nội (bao gồm cả danh sách các cá nhân đã tham ra góp vốn) chứkhông hề có ý định lừa đảo, chỉ “chăm chăm” thu tiền của khách hàng.Đồng thời việc ký hợp đồng với các khách hàng là trên cơ sở hợp đồng dân sự có thỏa thuận, tự nguyện của các bên.Nếu mục đích chiếm đoạt có trước khi nhận tiền của khách liệu rằng các bị cáo có trả tiền lại cho khách hàng có nhu cầu rút vốn như vậy hay không?
Vì vậy, không thể khẳng định các bị cáo có mục đích chiếm đoạt tài sản trước khi nhận được tài sản.
3. Cơ quan tố tụng vẫn chưa làm rõ thực chất số tiền mà các bị cáo chiếm đoạt:
Các số tiền thu được từ khách hàng đã được Châu Thị Thu Nga và các bị cáo sử dụng vào nhiều mục đích khách nhau, cụ thể số tiền 377.287.934.482 đồng như các cơ quan tố tụng đã quy kết. Tuy nhiên liệu có phải các bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền này? Các bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm cả với những khoản tiền dùng để chi cho dự án, chi cho công ty, cho cán bộ công nhân viên công ty, cho phúc lợi, cho xã hội, cho các hoạt động khác hay chỉ những khoản tiền mà các bị cáo tư lợi cho cá nhân của mình? Việc đồng nhất các khoản tiền chi cá nhân và chi cho công ty là một để quy kết trách nhiệm là không hợp lý, cụ thể:
+ Cáo trạng thể hiện Housing Group đã chi 85 tỷ ký hợp đồng kinh tế với 40 côngty (xác minh tại các công ty tại các BL19087, 19138, 19368, 19127; 19412, 19413; 19608, 19633; 19813; 19841…).Tuy nhiên đó là hoạt động kinh doanh thể hiện trong sổ sách được kiểm toán (BL 2812 đến 2817). Châu Thị Thu Nga không phải chịu trách nhiệm về số tiền này vì người đại diện pháp luật mới của công ty cũng thừa nhận số tiền này vẫn được chi cho dự án (BL 1229, 1230) đang triển khai.
+ Với những khoản tiền chi thưởng lễ Tết, lương (BL 7347 đến 7763; 7746 đến 8212; 8213 đến 8715, 9136 đến 9605; 9606 đến 9936), nộp tiền bảo hiểm xã hội, may đồng phục, chi phúc lợi từ thiện, mua ôtô (BL 5636 đến 5998), chi quảng cáo (BL 6461 đến 6876; 6877-7346) là những khoản chi hợp pháp cho doanh nghiệp.
+ Khoản chi hơn 25 tỷ đồng cho các dự án khác cũng đang được Housing Group thực hiện (BL 4025- 5635) nên không thể quy kết Châu Thị Thu Nga chiếm đoạt số tiền này.
+ Với khoản chi không có chứng từ, Cơ quan điều tra đã quyết định tách nội dung này để điều tra làm rõ, thì hiện tại chưa có cơ sở để yêu cầu Châu Thị Thu Nga phải chịu trách nhiệm đối với số tiền ấy trong vụ án này.
Bên cạnh đấy, Cơ quan tố tụng mới chỉ lấy được lời khai của 501/726 khách hàng, còn 225 khách hàng chưa lấy được lời khai mà đã cáo buộc các bị cáo chiếm đoạt số tiền hơn 377 tỉ là chưa đủ căn cứ, chưa khách quan và toàn diện vi phạm quy định tại Điều 10, BLTTHS về Xác định sự thật của vụ án: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội”.
(Còn tiếp) - HT

Nhận xét
Đăng nhận xét